Ngoài ra, dương vật (bạch mã âm kinh), gan, phổi và máu ngựa cũng được dùng làm thuốc.
Mã nhục (thịt ngựa): chứa protid, lipid, có các muối khoáng và vitamin. Theo Đông y, thịt ngựa vị ngọt đắng, tính nóng, có độc; có tác dụng lớn gân, mạnh xương. Chữa gân xương yếu, chứng xương đốn liệt, tê bại và nhiệt khí, tiêu hóa kém, chốc lở và rụng tóc. Ăn thịt ngựa, trẻ mỏ cứng cáp, nhanh nhẹn; thanh niên vạm vỡ cường tráng; người già không bị đau nhức xương và sống lâu. Có thể chế biến thành những món ăn hợp khẩu vị theo lứa tuổi.
ỉ eo: Không dùng thịt ngựa cho người bị hạ lỵ; không nấu thịt ngựa với ké đầu ngựa (thương nhĩ tử), hoặc với gừng.
Mã nhũ (sữa ngựa): chứa protid cao hơn sữa người, lipid và các vitamin C, A, muối khoáng và các nguyên tố vi lượng. Theo Đông y, sữa ngựa vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ huyết, nhuận táo, thanh nhiệt, chỉ khát. Chữa huyết hư, phiền nhiệt, cốt chưng, chỉ khát. Sữa ngựa được dùng theo nhiều cách: sữa tươi, sữa chua, rượu sữa. Sữa tươi, thêm ít đường cho đủ ngọt , đun sôi, uống trong ngày; là thuốc bổ sinh huyết, dễ tiêu, chữa ho, phổi ráo, dùng cho người bị lao phổi hoặc mắc bệnh mãn tính. Sữa chua ngựa là nước tiểu khát tăng lực giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt hơn; góp phần làm hưng phấn tâm thần khi mệt mỏi, chữa các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, sinh dục và nhiều loại bệnh ngoài da. ở Mông Cổ, có một tập quán lâu đời về chế rượu sữa ngựa như người Việt Nam chế rượu nếp cái bằng men thuốc. Rượu sữa ngựa có nồng độ cồn thấp, dùng để bồi bổ, làm giảm béo, chữa thiếu máu và bình phục sức khỏe với người bị lao phổi.
Mã cốt (xương ngựa): chứa calci phosphat, keratin, oscein. Theo Đông y, xương ngựa vị ngọt, tính lương, có tác dụng bồi dưỡng, ích khí, mạnh gân xương. Thường dùng dưới dạng cao - cao ngựa bạch: phục hồi sức khỏe với người mới ốm dậy, đau nhức gân xương, nữ giới sau khi đẻ, kinh nguyệt không đều, trẻ thơ còi xương xanh xao biếng ăn.
Kiêng kỵ: không dùng rượu cao ngựa với trẻ con; khi dùng kiêng các chất tanh như tôm, cua, cá, chất cay: tỏi, ớt, hạt tiêu, nước chè đặc, đậu xanh, rau muống.
Bạch mã âm kinh (dương vật ngựa): vị ngọt mặn, tính ôn; tác dụng bổ thận ích khí. Dùng cho người hư nhược gầy gò, ốm yếu, liệt dương, tinh suy. Kết hợp với nhục ung dung, liều lượng bằng nhau, tán bột mịn, trộn với mật ong làm hoàn; ngày uống 6g trước bữa ăn để trị liệt dương.
eo sèo: không dùng cho người âm hư hỏa vượng.
Mã bảo (sỏi) : vị mặn, tính lạnh; có tác dụng trấn kinh hóa đờm, thanh nhiệt giải thi bang a1 độc. Trị các chứng kinh giản điên cuồng, đàm nhiệt nội thịnh, thần trí hôn mê, nôn ra máu, chảy máu cam, mất ngủ do tâm thần, ho do co thắt.
BS. Tiểu Lan
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét